Cảm nhận đoạn thơ:

"Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây
Núi dăng thành luỹ sắt dày
Rừng che bộ đội rừng vây quân thù
Mênh mông bốn mặt sương mù
Đất trời ta, cả chiến khu một lòng"


HƯỚNG DẪN LÀM BÀI:

I. Mở bài

"TH đã đưa thơ chính trị lên đến trình độ thơ rất đỗi trữ tình " (Xuân Diệu). Vì vậy mỗi một sự kiện thời sự chính trị thông qua trái tim nhạy cảm của nhà thơ đều trở thành đề tài thành cảm hứng nghệ thuật thực sự, kể cả những sự việc, những kỉ niệm về thời kháng Nhật đánh Tây nơi chiến khu VB "Nhớ khi…….một lòng"

II. Thân bài
1. Hoàn cảnh sáng tác và vị trí của đoạn thơ
Sáu dòng thơ là lời đáp của kẻ về xuôi trong bài thơ "VB" của TH một bài thơ được sáng tác vào tháng 10.1954 khi TW Đảng - CP - BH từ biệt chiến khu VB, nhân dân VB về Hà Nội tiếp tục lãnh đạo đất nước. Trong cuộc biệt li này TH đã nhập thân vào nỗi nhớ tâm sự của người dân VB, của cán bộ kháng chiến trong những dòng thơ lục bát mang hình thức đối đáp dân gian. Nếu ở trên lời đáp của người về xuôi đã hồi tưởng lại những kỉ niệm về thiên nhiên VB, con người VB, về cảnh chiến khu VB hoa với người bên nhau qua bốn mùa độc đáo thì ở đây dòng hồi tưởng của người về xuôi tiếp tục khẳng định những tình cảm, những nỗi nhớ niềm thương của mình đối với một thời kháng chiến, với những ngày kháng Nhất chống Tây.
2. Cảm nhận:
TH khéo léo sử dụng từ "nhớ" ở đầu đoạn thơ, nhưng từ "nhớ" này chính là sự tiếp tục tự nhiên tất yếu của một mạch thơ với một loại từ "nhớ" ở phần trên. Bên cạnh việc nhờ "tiếng mơ rừng chiều" nhớ "hoa cùng người", nhớ lớp học, nhớ tháng ngày ở cơ quan…có nỗi nhớ về những ngày kháng chiến gian khổ anh dũng. Từ "nhớ" này vì vậy vừa giữ nhịp cho nỗi nhớ vừa tiếp tục làm sống dậy vô vàn những kỉ niệm về chiến khu VB, nó làm cho cả đoạn thơ này đều là thế giới của kỉ niệm, đều là lời thơ dệt bằng kỉ niệm.
- Dòng thơ đầu "Nhớ khi…giặc lung" vừa gợi lại một thời điểm tiêu biểu trong "mười năm năm ấy" vừa gợi lại những hình ảnh, những ngày lực lượng cách mạng còn yếu, thế và lực của giặc còn mạnh mẽ chủ động. Từ "lùng" cho thấy ý định thâm hiểm và tàn bạo của kẻ thù muốn bóp chết CM khi còn trong trứng nước, muốn tiêu diệt CM ngay tại căn cứ địa, đó là hoàn cảnh khắc nghiệt, là một thử thách lớn lao đối với CM, nhưng đối diện với hoàn cảnh ấy - trước sức mạnh ấy của kẻ thù vẫn là ý chí quyết tâm bảo vệ CM, quyết tâm đánh đuổi kẻ thù của nhân dân VB, của cán bộ kháng chiến. Các hình ảnh: "Rừng cây núi đá" tiêu biểu cho thiên nhiên VB thì từ "ta" lại tiêu biểu cho con người, là lời tự xưng của con người. Nếu ở trên các từ "ta" thường được dùng hoặc để chỉ người đi hoặc kẻ ở thì trong từ "ta" ở đây đã bao hàm được cả nhân dân VB lẫn cán bộ kháng chiến. Hai dòng thơ gợi lên ít nhiều sự đăng đối: đáp lại việc "giặc lùng" là quan tâm "đánh Tây". Những từ nhỏ bé bình thường ấy đã gợi lại cả một xung đột lớn lao căng thẳng một hoàn cảnh có tính lịch sử, là có giặc ngoại xâm và có cuộc đấu tranh chống phá ngoại xâm. Lời thơ ở dòng hai với cách nói "Ta cùng đánh Tây" đã khẳng định quyết tâm đồng lòng chung sức của cả con người lẫn thiên nhiên, cả nhân dân VB lẫn cán bộ kháng chiến. Tất cả đã kết thành một khối chung thống nhất quyết tâm chống trả kẻ thù bảo vệ cm.
Nếu hai dòng thơ đầu khẳng định quyết tâm đánh giặc một cách khái quát thì bốn dòng thơ sau lời thơ như triển khai cụ thể việc đánh giặc của thiên nhiên - của con người. Vẫn là "rừng cây, núi đá", nhưng chúng dường như không còn là thứ thiên nhiên vô tri vô giác nữa, không còn là thứ tĩnh tại bất biến ngàn đời mà như cũng vận động chuyển mình trong cuộc chiến đâú chung, cũng đứng lên cầm vũ khí. Hình ảnh nhân hoá "Núi giăng……dày" cho thấy những dãy núi hùng vĩ ở VB đã trở thành luỹ thép, thành chiến hào chiếnluỹ bảo vệ CM chống lại kẻ thù xâm lược. Từ "giăng" vừa gợi lại một phạm vi không gian trải dài rộng lớn của những núi non luỹ thép vừa gợi được cái trùng điệp hiểm trở. Cả hình ảnh rừng cây như cũng có khuynh hướng tư tưởng cũng biết đứng về phía cuộc đấu tranh chính nghĩa, bảo vệ CM chống lại kẻ thù:
"Rừng che bộ đội , rừng vây quân thù"

Dòng thơ ngắt nhịp rất cân đối hài hoà và là một phép tiểu đối rất độc đáo , các từ "che", "vây"…làm cho những rừng cây VB cũng trở thành một lực lượng CM đáng kể, vừa bảo vệ CM vừa vây bủa kẻ thù. Cả một trận địa trùng trùng điệp điệp do thiên nhiên giăng ra đã đẩy kẻ thù vào thế bị động. TH đã sử dụng cái nhìn khái quát toàn cảnh từ tầm cao - tầm xa, để thấy được toàn cảnh chiến khu VB, thấy được sự đồng lòng chung sức chung lòng của cả con người lẫn thiên nhiên trong kháng chiến. Thiên nhiên VB đã từng ân tình ân nghĩa như thế, nên người về xuôi làm sao có thể lãng quên ? Phải đọc những dòng thơ này người ta mới phải hiểu hết ý nghĩa của những câu hỏi đã được nêu ra ỏ phần đầu bài thơ:
"Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn"
Sự đồng lòng chung sức của con người và thiên nhiên được khẳng định khái quát một lần nữa ở hai dòng thơ cuối ở cái nhìn toàn cảnh được gợi lên qua các từ "mênh mông", "chiến khu". Hình ảnh "Mênh…núi" rất đặc trưng cho thiên nhiên nơi chiến khu VB, một thứ thiên nhiên mà HCM thường nhắc tới trong bài "Nguyên tiêu" (Rằm tháng riêng)
"Yên ba thâm xứ đàm quân sự"
(Bàn việc quân ở nơi sâu thẳm sâu giữa khói sóng)

Nếu ở trên các hình ảnh "rừng cây núi đá" gợi phạm vi không gian chiến khu trải dài theo bề rộng bề ngang, thì các hình ảnh :"đất trời" ở dòng thơ cuối gợi không gian theo chiều dọc từ cao tới thấp, từ mặt đất đến bầu trời, nó có ý nghĩa gợi một không gian trọn vẹn đầy đủ về chiến khu VB. Chínhh từ ấn tượng khái quát ấy TH muỗn khẳng định "Đất trời…lòng"
Sự đoàn kết, tinh thần đồng lòng chung sức đã trở thành một quyết tâm không gì lay chuyển nổi thiên nhiên con người VB, của cán bộ kháng chiến. Đó cũng chính là một vẻ đẹp mà người về xuôi không thể nào quên. Mỗi kỉ niệm về chiến khu VB, về những ngày kháng Nhật đánh Tây đẫ thực sự hoá thành thành kỉ niệm, đã có một sức sống riêng nơi tâm hồn của người về xuôi không thể phai mờ. Có thể nói, sáu dòng thơ này là cánh trả lời rất khéo léo tinh tế cho câu hỏi: "Mình về có nhớ núi non / nhớ khi….mình" mà người ở lại đã nêu ra ở phần trên.
TH đã sử dụng nhuần nhuyễn chuyển thể thành thơ lục bát thuần tuý dân tộc để thể hiện nỗi nhớ của kẻ về xuôi. Những dòng thơ lục bát ở đây vừa mộc mạc bình dị như trong ca dao, vừa có vẻ đẹp cổ điển hài hoà giống như lời thơ lục bát của ND trong "TK". Nó góp phần mang lại cho đoạn thơ ngắn này vẻ đẹp của tinh thần dân tộc.

III. Kết bài
Với sáu dòng thơ TH đã làm cho những sự việc - sự kiện thuần tuý có ý nghĩa thời sự chính trị thực sự hoá thân thành những kỉ niệm thành nỗi nhớ, thành cảm hứng nghệ thuật thực sự. Nó cho thấy những vần thơ chính tị của TH đã đạt được đến trình độ bài thơ rất đỗi trữ tình.

View more latest threads same category: