Văn mẫu lớp 11

Bài văn phân tích chi tiết bức chân dụng tự hoạ tác phẩm Bài ca ngất ngưởng

Bài văn phân tích chi tiết bức chân dụng tự hoạ tác phẩm Bài ca ngất ngưởng

Hướng dẫn

Trên Lam thuỷ, dưới Hồng sơn,

Nơi nào đọc sách, gảy đàn, nhà anh.

Đày là hai câu thơ mà Nguyễn Công Trứ đã dùng để giới thiệu về mình. Ông là một con người say mê, ham học, mặc dù tói năm bốn mươi hai tuổi ông mới đỗ đạt trong thi cử. Hơn nữa, ông’cũng được coi là một vị quan thanh liêm. Thơ ông mang một không khí tự do, phóng túng mà ngang tàng. Trong số sáu mốt bài ca trù của ông thì có thể xem Bài ca ngất ngưởng là một kiệt xuất. Dựa vào hoàn cảnh sáng tác thì ông cũng đã có đủ độ chín về thời gian cũng như suy nghĩ, thế nên bài thơ như một “bức chân dung” tự họa của một con người xuất chúng, về một cuộc đời đã trải qua những năm tháng vinh quang nhất cũng là những phần đời thông thường bình dị nhất. Óông hội tụ cái tài, chí, tâm, cái phong cách rất “ngất ngưởng” đểcó thể dám lấy cái ngông ngạo, nghênh ngang, biến nó thành một phương tiện để khẳng định một triết lý sốngkhông giống ai giữa bọn triều thần phàm tục.

“Bức chân dung tự họa” của Nguyễn Công Trứ trong tác phẩm là sự khắc họa về một con người, cụ thể là chính ông, về cái tài, tâm, chí, về phong cách “ngất ngưởng” của mình khi còn làm quan cũng như lúc cáo quan về quê hưởng lạc. Cả bài thơ bao trùm một cảm xúc “ngất ngưởng”. Do vậy, điều đầu tiên ta thấy trong bài thơ là phong cách “ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ. Điều đó thể hiện rõ nét qua những từ ngất ngưởng trong bài thơ. Xuyên suốt bài ca trù mười chín dòng này, có tới năm lần tác giả nhắc tới từ “ngất ngưởng” mà đều đặt ở vị trí then chốt. Một từở nhan đề bài thơ, ba từ nằm rải rác trong bài thơ và một từ nằm trong câu kết, câu khái quát có tinh thần của bài. Tất cả đã tạo nên âm hưởng chú đạo và làm cho bài thơ mang một sắc thái khác lạ. Ta có thể hình dung, “ngất ngưởng” là trạng thái của một vật có chiều cao, song không chịu giữ yên vị trí mà cứ lúc lắc, chông chênh, chực như đổ xuống, song lại không đổ. Nó gây cho người ta một cảm giác gì đó rất thấp thỏm. Tuy nhiên, nếu đặt vào bài thơ này, thì từ “ngất ngưởng” không được hiểu là một trạng thái mà đặc biệt hơn là cử chỉ, hành vi của một con người có cá tính, một tư thếsống, phong cách một cá tính luôn muốn vượt qua thách thức, đối lập không chịu sự gò bó, luôn thách thức, đối lập với mọi người xung quanh, thậm chí còn là coi thường người khác. Có lẽ từ “ngất ngưởng” trong bài thơ được hiểu là như vậy. Đó có thể là một kẻsống khác đời, khác người mà người ta vẫn gọi là ngất nga ngất ngưởng. Cái lối sống kiêu hãnh, bất cần đời, cái sự luôn tán thưởng của kẻ tài ba với giọng điệu chân thực trong tác phẩm thì chỉcó Nguyễn Công Trứ. Ông đã “ngất ngưởng” khi còn làm quan tại triều:

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.

Không ngần ngại khi kể về những mốc son chói lọi trong cuộc đời mình: đỗ Thủ khoa, làm các chức quan quan trọng… vậy mà ông chỉ coi điều đó là tay ngất ngưởng. Rõ ràng Nguyễn Công Trứ muốn khẳng định rằng, ông phải muốn khoe công danh mà cốt là để khoe về cái cốt cách tài tử phóng túng của mình. Giọng điệu văn tuy có hơi khoa trương nhưng cũng không làm người đọc khó chịu bởi ông luôn ý thức được phẩm hạnh và tài năng của mình. Có lẽông tự nhận thấy rằng việc giam chân vào lồng của mình cũng là lúc tốt nhất đểông thể hiện cái ngất ngưởng đó. Việc đứng ngoài mình để nói mình của ông cũng đã có sự khẳng định sự công nhận của người đọc rằng Nguyễn Công Trứ đồng tình với “tay ngất ngưởng” và đó đã trở thành một bản tính đặc thù của ông. Và nó đã thúc đẩy trong ông một động lực phát triển cái ngông nghênh lên đỉnh cao của cá tính và trờ thành ngất ngưởng, sự ngất ngưởng của một con người tài năng. Bới chỉcó những người có tài thì mới dám ngông như vậy. Khi còn làm quan, giữ nhiều chức cao, Nguyễn Công Trứ ngất ngưởng là điều dễ hiểu, nhưng khi về quê hưởng lạc thì ông lại càng ngất ngưởng hơn:

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng

Phải công nhận ởông một lối sống rất khác người. Phải chăng, khi còn làm quan, ông bị chi phối bởi xã hội phong kiến nên khi cáo quan về quê thì là lúc ông bộc lộ cái ngất ngưởng một cách mạnh mẽ nhất. Bò vàng cũng đeo đạc ngựa. Nghe thì thật trái khoáy, song ông lại muốn và làm như vậy. Thật là ngất ngưởng.

Kìa núi nọ phau phau mây trắng

Ngọn núi mà phau phau mây trắng kia thực ra là ở xa, có thể là cái đích để tác giả ngao du tới đó chăng. Trong lịch sử thì người ta vẫn coi ông là con người thích ngao du sơn thuỷ, và tự do, phóng khoáng. Chonên không ngạc nhiên gì khi tác giả lại dành phần đời còn lại để ngao du. Ồng muốn lên trên cao để thoát khỏi bụi trần, để hoà mình vào thiên nhiên cho lòng sảng khoái. Đó cũng là một trong những sở thích của thi nhân xưa. Qua đó, cũng có thể tác giả muốn nói với mọi người: hãy vui chơi theoý mình đừng bịsự ràng buộc của khuôn phép. Bởi chính tác giả cũng là người ưa vui chơi và luôn theo đuổi triết lý hưởng thụ. “Chơi cho lịch mới là chơi”. Tiếp đó lại là một sự “ngất ngưởng” của ông:

>> Xem thêm:  Quan niệm về đồng tiền trong tác phẩm Thuý Kiều

Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi

Nguyễn Công Trứ đã từng là một đại tướng đánh tan ôở phía Bắc, đánh giặc ởphía Tây Nam, đã từng bài bác Phật giáo và đề cao Nho giáo. Vậy mà khi về hưu, ông lại nhập vai một tín đồ Phật giáo dưới dạng từ bi. Điều đó có lẽ là không hợp với ông mà cũng vì ông đã từng nhận rằng: thân cây tùng đứng giữa tròi mà reo. Do đó, việc làm của ông là không hề phù hợp, nhưng thật “ngất ngưởng” khi rõ ràng ông biết điều đó không phù hợp với mình, mà vẫn cứ làm:

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.

Ông đã từng quan niệm hạnh phúc là cõi tịnh, mà khi vào chốn thanh tịnh, cõi tiên ông còn dẫn theo một đôi dì mà còn rất đủng đỉnh nữa. Nhìn thì thật là chướng mắt. Dù biết rằng việc làm của mình khiến cho mọi người cảm thấy khó chịu, song đối vói ông điều đó lại rất hay, rất thú vị. Lại thêm một sự ngất ngưởng nữa. Trước chiến tích ngất ngưởng này, thì Bụt cũng không còn vẻ mặt an nhiên nữa. Bụt cũng nực cười trước cái sự quá ngất ngưởng đó và gọi ông là “ông ngất ngưởng”. Nhưng thực chất thì có lẽ do chính ông gọi mình như vậy. Rồi ông đã đưa ra cho mình một phong cách sống rất lý tưởng:

được mất dương dương người tái thượng,

Khen chê phơi phới ngọn dông phong.

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,

Không Phật, không tiên, không vướng tục.

Ông là con người luôn muốn giải thoát bức bối để tìm cho mình một sự tự do. Thế nên, đối với ông, chuyện được mất, khen chê là vô nghĩa, không đáng lưu tâm. Ông luôn sống mà không màng tới xã hội, hưởng thụ mà không vướng tục. Vìvậy ông vẫn giữ được vẻ “dương dương” của người tái thượng, sự phơi phới của ngọn đông phong,ởông có một lối sống khác người: vui chơi, hưởng thụ mà không vướng tục, tiêu dao mà không bị tiên Phật chi phối… đó đều là phong cách sống, là một triết lý sống của nhà thơ.

Nguyễn Công Trứ đã có nhiều ngất ngưởng song điều đó phải chứng tỏông là người có chí:

Vũ trụ nội mạc phi phận sự

Phải là người có chí nam nhi thì mới dám ngất ngưởng như ông. Đây là câu thơ mở đầu bài thơ mà lại là câu thơ chữ Hán rất trang trọng. Bắt gặp trong câu thơ là hình ảnh của thiên nhiên. Đó là vũ trụ, hình ảnh rất quen thuộc trong thơ ca trung đại. Song, tồn tại song song với nó là không gian xã hội mà cụ thể là vai trò của cá nhân, của tác giả. Như thế, câu thơ nói rằng “mọi việc trong vũ trụ, không có việc nào không phải là phận sự của ta”. Trước hết, câu thơ là sự ý thức của một kẻsĩ trong xã hội phong kiến. Một kẻsĩ phải có “tu thân tể gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Tác giả cho rằng, người nam nhi sinh ra không phải để hưởng những giây phúc bình yên mà phải tung hoành ngang dọc, lập nên sự nghiệp to lớn “kinh thiên động địa”. Trong nhiều bài thơ, tác giả đã nhắc tới ý thức này:

Vũtrụ giao ngô phận sự

(Luận kẻsĩ)

Hay:

Vũtrụ chức phận nội

(Gánh trung hiếu)

Hơn nữa, tác giả còn ý thức được sựcó mặt của mình trong đời. Điều đó đã trở thành niềm tư hào, kiêu hãnh mà hơn cả là sự tự hào của tác giả khi gánh vác trọng trách to lớn của đời.

Bên cạnh đó, không chỉcó chí mà tác giả còn có tài:

Khỉ Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông Nhà thơ đã rất tự hào và thoả mãn về mình. Chính vĩ lẽ đó mà ông đã cho mình sánh ngang với các đại tướng Trung Quốc như Trái, Ngạc, Hàn, Phú. Con đường công danh của ổng thật rực rỡ: đỗ Thủ khoa, làm các chức quan như Thám hoa, Tổng đốc Đông, có khi lại làm đại tướng chinh chiến… lại càng khẳng định một điều nữa, phải có tài thì ông mới có thể ngất ngưởng.

Tuy rằng ông cung có sự ngấp nghé vượt rào thi pháp trung đại, song ông vẫn cho rằng cái gì cần phải có:

Nghĩa vua tôi cho trọn đạo sơ chung

Đối với tác giả, cái tâm phải là trung với vua, với nước. Lòng thủy chung, trước sau như một của tác giả thật đáng nể phục. Để rồi ông lại kiêu hãnh viết:

Trong triều ai ngất ngưởng như ông!

Phạm Đức Mạnh

Nguồn: Vietvanhoctro.com

>> Xem thêm:  Phân tích văn thơ của nhà thơ Nguyễn Công Trứ

Post Comment