Cảm nhận của em về bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy

Cảm nhận của em về bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy

Loading...

Nguyễn Duy là nhà thơ trường thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Sáng tác của ông thấm đẫm phong vị của ca dao. dân ca nhưng nhiều bài văn có cái ngang tàng mà trầm tĩnh, giàu chiêm nghiệm. Thơ ông vì thế cứ đi sâu vào tâm hồn người đọc một cách tự nhiên và có lúc khiến người ta phải giật mình. Ánh trăng là một thi phẩm như thế. Nó tựa như một câu chuyện nhỏ có các sự kiện diễn biến theo trình tự thời gian. Lời thơ dung dị như lời kể những chất thơ vẫn đong đầy và ẩn chứa những triết lí sâu sắc về con người, cuộc đời.

Mở đầu bài thơ là những kỉ niệm êm đềm, tươi dẹp giữa trăng và người trong quá khứ. Một loạt những mốc thời gian được liệt kê, như một cuốn phim quay chậm:

Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với bể
hồi chiến tranh ở rừng
vắng trăng thành tri ki.

Lời thơ như không hề có sự dụng công nghệ thuật mà chỉ là sự đo đếm bước đi của thời gian, sự kiện: hồi nhỏ, sống với đống, với bể, với sông, hồi chiến tranh,… Thế nhưng ẩn chứa sau nó là cả một quãng đời dài, từ thời niên thiếu hồn nhiên,thơ dại đến khi trường thành và trong những năm tháng chiến  tranh  gian khổ gắn bó cùng trăng. Mọi chiều kích không gian và thời gian được mở rộng tới bao la, không cùng, gợi hình ảnh Ánh trăng tràn ngập không gian, trải dài theo thời gian. Cách gieo vẩn lưng “đồng”, “sông" và điệp từ “với” đã diễn tả một tuổi thơ êm đềm hạnh phúc chan hoà cùng thiên nhiên của tác giả. Khi lớn lên, bước  chân vào đời lính gian khổ, giữa núi rừng hoang lạnh “vầng trăng thành tri kỉ". Trăng theo sát bước chân người lính, cùng chia sẽ buồn vui của cuộc sống chiến đấu. Ta chợt nhớ tới vầng trăng của tỉnh đồng đội thiêng liêng trong sáng tác của Chính Hữu:

Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Dầu súng trăng treo.
(Chính Hữu – Đồng chí)

Trăng thực sự là một người bạn thân thiết trong những năm tháng tuổi nhỏ  và là người “tri kí” của người lính trong những tháng ngày khói lửa chiến tranh. Con người giản dị, hồn nhiên như bản tính vốn có của tự nhiên bao đời:

Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ.

Tính từ “trần trụi”, “hồn nhiên” được đặt ở hai đầu dòng thơ như muốn nhấn mạnh khi chất của con người. Trăng và người cứ hồn nhiên như thể, như sông, như đồng, như bể, như tâm hồn chân chất của những người nông dân mộc mạc, như tinh thần lạc quan, bay bổng của những người lính. Cách gieo vẩn lưng “thiên nhiên”, “hồn nhiên” làm cho âm điệu thơ liền mạch, khơi dòng cảm xúc dâng tràn trong tâm hồn thi nhân. Từ “ngỡ” như báo trước một sự đổi thay, một điều bất thường. Câu thơ như một lời tự nhủ của nhân vật trữ tình, cũng là bản lễ mở ra sự biến chuyển của tử thơ:

Từ hồi về thành phố
Quen ảnh điện, của gương
Vầng trăng đi qua ngõ
Như người dưng qua đường.

Tác giả chỉ ra sự đối lập giữa hoàn cảnh của con người trong hiện tại và quá khứ. Quá khứ là những tháng ngày sống cùng thiên nhiên dân dã, mộc mạc, với đồng, với sông, với bố; còn hiện tại là “ảnh diện, của gương” nơi phố thị phồn hoa. Tác giả sử dụng thủ pháp hoàn dụ để nói về cuộc sống đầy đủ, tiện nghi xa hoa, ồn ảo của thành phố. Từ sự thay đổi của hoàn cảnh đã dẫn đến sự đổi thay của lòng người:

Vầng trăng di qua ngõ
như người dưng qua đường.

Người bạn “tri kỉ”, “tình nghĩa” tưởng không bao giờ quên được ấy giờ đây lại giống như “người dưng qua đường”. Phép nhân hoá càng gợi lên dư vị xót xa trong tâm hồn độc giả. Vầng trăng có tình cảm, có yêu thương, có thuỷ chung. Còn con người lại đứng dưng, vô tỉnh, để đổi thay. Những ồn ào nơi cuộc sống phố thị, những ánh sáng của cuộc sống xa hoa làm lu mờ trái tim, xoá nhoà kí ức đẹp đẽ một thời. Đó không phải là điều cá biệt trong cuộc sống. Bởi vậy mà ông cha ta đã từng nhắc nhở: “ngọt bùi nhớ lúc đắng cay”, khuyên con người ta không nên quay lưng lại với quá khứ. Có lẽ, vầng trăng tri kỉ đó sẽ mãi bị “ngủ quên” trong miền kí ức nếu không có một tình huống bất ngờ xảy đến, buộc con người phải đối mặt:

Thinh lình đèn điện tắt
phòng buyn-đinh tối om
vội bật tang của số
đột ngột vầng trăng tròn

Đèn điện tắt cũng là lúc những ánh sáng của bóng điện cửa gương biến mất. Đó là tình huống tạo nên bước ngoặt để nhân vật. trữ tình bộc lộ cảm xúc, thể hiện chủ để của tác phẩm. Hai từ “thình lình”, “đột ngột” mang âm hưởng nhanh, mạnh, được đào lên đầu câu, tạo sự đối lập giữa “phòng buyn- đinh tối om” và “vầng trăng tròn ”. Giây phút nhìn thấy vầng trăng chứa chở bao cảm xúc ngỡ ngàng. Cải “đột ngột” trong sự xuất hiện của vầng trăng cũng chính là tâm trạng “đột ngột” của nhà thơ khi nhận ra vầng trăng tình nghĩa ngày nào. Trăng vẫn như xưa, vẫn đẹp một vẻ tròn đẩy, vẹn nguyên. Sự xuất hiện ấy, lặng lẽ thôi mà đầy bất ngờ. mà có sức rung động mạnh mẽ dối với tâm hồn con người, thức tình phản kí ức bị ngủ quên. Để rồi, khi đối diện với tráng, những cảm xúc ấy càng dâng tràn mạnh mẽ:

Ngừa mặt lên nhìn mặt
Có cái gì rưng rưng
Như là đồng là bể
Như là sông là rừng.

Niềm xúc động chen lẫn sự thành kính bao trùm không gian. Trăng và người quá khứ và hiện tại, thuỷ chung và đổi thay đổi diện với nhau. Từ "mặt" cuối câu thơ là từ đa nghĩa, tạo nên sự đa dạng cho ý thơ. “Mặt” là trăng, là thiên nhiên, là quá khứ một thời bị lãng quên và “mặt” còn là chính bản thân con người: Con người đang tự đối diện với chính mình, với một thời quá vãng. Khoảnh khắc đối diện ấy làm nhà thơ “rưng rưng” xúc động, bởi quá khứ vất vả mà ấm áp tình yêu cùng trăng bấy lâu tưởng chừng bị lãng quên nay lại ùa về, bởi con người đã nhận thức được giá trị của quá khứ, biết hổ thẹn và ân hận về sự đổi thay của mình. Điệp từ “như là”, các hình ảnh liệt kê sông, đồng, bể, rừng cùng nhịp thơ dồn dập tạo nên dòng cảm xúc mãnh liệt, cuốn độc giả hoà theo với bao mênh mang, sâu lắng. Khổ thơ cuối là dòng cảm xúc lắng sâu, trở thành những triết lí nhân sinh sâu sắc:

Trăng cứ tròn vành vạnh
Kể chi người vô tình
Ánh trăng im phăng phắc
Đủ cho ta giật mình

“Trăng tròn vành vạnh” biểu tượng cho sự tròn đầy, vẹn nguyên, thuỷ chung như nhất của thiên nhiên, của quá khứ. Nó đối lập với con người vô tình đổi thay, đối lập với ảnh diện. của gương để bị chi phối bởi hoàn cảnh. Hai tiếng “kể chi” như một lời khẳng định thể hiện sự bao dung độ lượng của trăng. Ánh trăng được nhân hoá và khoảnh khắc “im phăng phác” là cái lặng im của sự nghiêm khắc mà bao dung, của sự thấu hiểu và độ lượng, tha thứ. Sự im lặng của trăng đủ để nhà thơ giật mình – cái giật mình của lương tâm thức tỉnh, của kí ức bi lãng quên ùa về. Cái giật mình ấy làm cho con người trở nên đáng trọng hơn.. Bao ăn năn như bị dồn nén, tạo nên một sự ám ảnh sâu sắc về cái lặng im đầy ý nghĩa, về cái giật mình thảng thốt ấy.

Sử dụng thể thơ năm chữ quen thuộc, với lời thơ giản dị, mạch thơ tự nhiên, Nguyễn Duy như đưa ta vào một câu chuyện cuộc đời để ta tự rút ra cho mình cách sống, cách đổi nhân xử thế. Bài thơ thức tỉnh mỗi chúng ta hãy biết trân trọng và giữ gìn quá khứ. Cảm xúc thơ chân thành, tha thiết giúp cho bài thơ ủ sâu nơi tâm hồn người đọc như một khúc ca da diết, mãi ngân vang. 

Cảm nhận của em về bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy
5 (99.6%) 605 đánh giá
Loading...

Từ khóa tìm kiếm