Văn mẫu Văn mẫu lớp 9

Cảm nhận về bài thơ Đồng chí

Đề bài: Anh/ chị hãy viết một bài văn cảm nhận về bài thơ Đồng chí 

Bài làm

Tác giả có họ tên là Trần Đình Đắc, bút danh là Chính Hữu, sinh năm 1928. quê Hà Tĩnh. Là chiến sĩ của Trung đoàn Thủ đô trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến chống Pháp.Ông là nhà thơ chiến sĩ trong suốt những năm dài khói lửa chống Pháp và chống Mỹ xâm lược. Chính Hữu làm thơ không nhiều và hầu như chỉ viết về người lính và chiến tranh. Thơ ông bình dị, cảm xúc dồn nén, vừa thiết tha vừa trầm hùng. Tác giả viết "Đồng chí” vào đầu mùa xuân năm 1948 tại chiến khu Việt Bắc. Bài thơ ca ngợi tình đồng chí cao cả và thiêng liêng, gian khổ có nhau, vào sinh ra tử có nhau của những người nông dân mặc áo lính giữa thời khói lửa.

              “ Quê hương anh nước mặn đồng chua

                Làng tôi nghèo đất cày nên sỏi đá”            

Hai câu thơ đầu đã nói lên những người chiến sĩ có chung nhau về hoàn cảnh xuất thân nghèo khó. Thủ pháp đối: “quê hương anh” – “làng tôi” cùng thành ngữ cho thấy sự tương đồng trong lai lịch, cảnh ngộ của những người lính thời chống Pháp. Họ đều ra đi từ những miền quê nghèo khó. Quê anh nước mặn, quê tôi thì sỏi đá. Gợi lên không khí cách mạng của thời đại và cuộc đổi đời vĩ đại của giai cấp nông dân. Lần đầu tiên trong lịch sử họ đứng lên làm chủ đất nước, làm chủ cuộc đời mình, cầm cây súng đứng lên chiến đấu.

>> Xem thêm:  Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà trong tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân

ng chí - Cảm nhận về bài thơ Đồng chí

Cảm nhận về bài thơ Đồng chí

              “ Anh với tôi đôi người xa lạ

                Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau

                Súng bên súng, đầu sát bên đầu,

                Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

                 Đồng chí!”

Hai câu tiếp theo cho ta thấy những người lính chung nhau về lí tưởng, lòng yêu nước. Từ những miền quê xa lạ, họ nhập ngũ và quen nhau trong quân ngũ. Không hề hẹn trước, họ tình cờ quen nhau. Họ cùng chung một chiến tuyến chống kẻ thù chung. Cùng chung nhiệm vụ, chung cuộc đời người lính. “Súng bên súng”, nhiệm vụ trong cuộc chiến, họ đứng canh giữa rừng mà đầu súng chạm vào nhau.“Đầu sát bên đầu”, “chung chăn”, cùng trải qua cuộc sống gian khổ, chia sẻ cho nhau những tình cảm nồng ấm.Qua tất cả mọi chuyện từ đó hình thành tình đồng chí. Đây là cả một quá trình, từ “Anh” – “tôi” thành “anh với tôi” rồi “đôi tri kỉ” và “đồng chí”. Thành đồng chí luôn sát cánh bên nhau. Đoạn thơ vừa lí giải cơ sở của tình đồng chí lại vừa cho thấy sự biến đổi kì diệu: từ những người nông dân xa lạ họ trở thành những đồng chí, đồng đội sống chết có nhau.

           “Ruộng nương anh gửi bạn thân cày 
           Gian nhà không mặc kệ gió lung lay 
           Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính. 
           Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh, 
           Sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi.”

>> Xem thêm:  Thuyết minh về cây dừa

 Đồng chí là sự thấu hiểu những tâm tư, tình cảm của nhau. Nhân vật trữ tình nói về nỗi lòng của đồng đội mà như đang bộc bạch nỗi lòng của chính mình. Ý chí lên đường, tình cảm cách mạng mãnh liệt. Khi cần họ biết hi sinh hạnh phúc cá nhân vì dân tộc. Họ bỏ lại ruộng vườn, ngôi nhà – là những tìa sản quý giá để vào lính. Từ “mặc kệ” đã nói lên sự lựa chọn dứt khoát ấy.  Đó là những cơn sốt rét rừng đã từng cướp đi bao sinh mạng, từng là nỗi ám ảnh đè nặng lên cuộc đời người lính. Cách nói “anh với tôi” một lần nữa cho thấy câu thơ không chỉ tả hình ảnh người lính bị cơn sốt rét rừng hành hạ mà còn gợi tình cảm đồng chí, đồng đội khi gian khổ đến cùng cực “sốt run người” vẫn quan tâm, lo lắng cho nhau.
               “Áo anh rách vai 
                Quần tôi có vài mảnh vá 
                 Miệng cười buốt giá 
                 Chân không giày 
                 Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!”

Những cảnh thiếu thốn áo rách, quần vá nhằng nhịt, chân không có giày, nhưng những người lính vẫn nở nụ cười tươi, nắm lấy bàn tay nhau truyền cho nhau thêm sức mạnh.

Đây là một bài thơ hay và ý nghĩa, mỗi con người sống trong xã hội hãy biết yêu thương nhau.

 

Bài viết liên quan

>> Xem thêm:  Nghị luận xã hội về bệnh thành tích

Post Comment