Văn mẫu lớp 9

Cảm nhận về bếp lửa, tình người trong bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt

Cảm nhận về bếp lửa, tình người trong bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt

Trong cuộc đời mỗi con người, kỉ niệm tuổi thơ bao giờ cũng đẹp đẽ, thân thương và chứa chan tình nghĩa. Bởi vì những kỉ niệm ấy thường gắn bó với những người ruột thịt, gần gũi: mẹ ta, bà ta, cha ta, ông ta, anh chị em ta, các bè bạn của ta…

Với Bằng Việt những kỉ niệm về người bà, về tình bà cháu chắc hẳn sâu nặng lắm, thân thiết lắm nên mới đủ sức khơi nguồn cho dòng cảm xúc âm nóng, để sáng tạo một bài thơ đặc sắc Bếp lửa. Đó là những kỉ niệm riêng tư của nhà thơ nhưng đọc bài thơ, ta vẫn được sưởi ấm chung với anh hơi lửa tình người giàu ân nghĩa, cao đẹp và thiêng liêng. Theo diễn biến tâm tư của người cháu, ta cảm nhận thấm thía từng cung bậc tâm trạng. Ngỡ như ta đang nhóm một bếp lửa của kỉ niệm tuổi thơ, lửa của cuộc sống lúc đã trưởng thành, bếp lửa của bà ngày xưa, của trăm nhà ngày nay.

Tám câu thơ đầu là kỉ niệm mới nhen, lúc đứa cháu mới lên bốn tuổi…

Đọng lại trong ba dòng thơ đầu tiên là chữ thương và hình ảnh người bà lặng lẽ, âm thầm trong khung cảnh biết mấy nắng mưa. Kỉ niệm đã sống dậy từ tình cảm nhớ thương bà và cuộc sống của hai bà cháu đầy khó khăn gian khổ…

Gia cảnh như thế nên tuổi thơ của cháu cũng như tuổi già của bà làm sao tránh được những cơ cực xót đau. Bao nhiêu kỉ niệm xa xưa được nhớ lại… Trong đó có một ấn tượng được nổi lên, tô đậm nhất, lay động tâm hồn. Đó là ấn tượng về khói bếp – khói từ bối lửa của nhà nghèo…

Mùi khói, rồi khói hun… Nhà thơ chọn được những chi tiết, hình ảnh sát hợp, vừa miêu tả cuộc sống tuổi thơ, vừa biểu hiện thấm thía những tình cảm khi tổ khi mở, lúc da diết bâng khuâng, lúc xót xa thương mến. Câu thơ:

>> Xem thêm:  Thuyết minh về chiếc kính mắt

Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay.

Nhấn sâu dòng kỉ niệm, xoáy sâu vào tiềm thức, lay mạnh vào giác quan con người. Đọc thơ, người đọc cũng thấy cay cay nơi sống mũi. Cái bếp lửa trong thơ Bằng Việt vừa mới khơi lên thoang thoảng mùi khói, chờn vờn trong sương sớm mà đã đầy ắp những hình ảnh kỉ niệm, hình ảnh hiện thực, thấm đậm bao nhiêu ân tình sâu nặng.

Đoạn thơ tiếp theo:

Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa…
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng.

Từ trong sương khói mịt mờ của tuổi nhi đồng, thổi hồng lên kỉ niệm tuổi thiếu nhi khi quê hương, đất nước có chiến tranh. Giọng thơ thủ thì như giọng kể chuyện cổ tích, với thời gian, không gian, sự việc và những nhân vật cụ thể.

Tám năm ròng, con số không lớn nhưng ngày tháng như kéo dài, ròng rã, nặng nề, Bởi vì đó là những ngày ở Huế, những ngày cô đơn, hoang vắng, quạnh hiu vì cuộc sống gia đình, bố mẹ đều đi công tác xa, chỉ có hai bà cháu cặm cụi bên nhau. Bà cháu nhóm lửa sớm sớm chiều chiều trong tiếng tu hú kêu. Ấn tượng đậm nhất trong khoảng thời gian này là tiếng chim tu hú khắc khoải cứ kêu hoài kêu hoài văng vẳng trên những cánh đồng xa dội về lúc gần, lúc xa trong trí nhớ nhà thờ… Trong hoàn cảnh ấy, phải chăng tiếng chim tu hú là tiếng vọng của trời đất động viên, an ủi những kiếp người đau khổ đáng thương? Tiếng chim tu hú, tiếng chim của đồng nội, quê hương hay chính là biểu tượng của tình quê hương sâu nặng trong bài thơ? Trong các cung bậc khác nhau của tiếng chim tu hú, tâm trạng của người cháu mỗi lúc một thiết tha mạnh mẽ, hình ảnh người bà càng hiện rõ dần. Bên bếp lửa hồng, bà kể chuyện, chuyện đời nay, chuyện đời xưa, chuyện thực, chuyện tưởng tượng. Rồi bà dạy cháu làm, chăm cháu học, báo cháu nghe… từng việc từng việc chăm chút, ân cần, âm thầm, nhẫn nại, kiên trì, bền bỉ chắt chiu… Tám năm ròng như thế… ngày ngày, tháng tháng, năm năm… bà cùng cháu nhóm lửa, giữ lửa để sống, để chờ đợi, để soi sáng trí tuệ và tâm hồn. Hình ảnh bếp lửa và việc bà nhóm lửa cùng hình ảnh người bà âm thầm, tần tảo bên ánh lửa gần trong tiếng chim tu hú kêu xa cứ trở đi trở lại, vấn vít, xoắn quyện vào nhau, dệt nên một bức tranh lung linh, xao xuyến.

>> Xem thêm:  Soạn bài các thành phần biệt lập

Đứa cháu lớn dần. Cuộc sống khó khăn hơn song nghị lực của bà vẫn bền vững, tấm lòng bà vẫn mênh mông. Kỉ niệm cháu nhớ bà cứ trang trải như ánh sáng của bếp lửa trong nhà hắt ra, tỏa sáng cả xóm làng, đất nước. Ý thơ mở tiếp những sự việc cụ thể:

Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi…
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!

Đến đây hình ảnh bếp lửa chuyển thành ngọn lửa. Bếp lửa chủ yếu biểu hiện cuộc sống âm thầm, lặng lẽ trong căn nhà nhỏ hẹp của hai bà cháu. Ngọn lửa là sự khái quát rộng lớn hơn. Đó là sức sống, tình thương, niềm tin của bà trong cuộc sống hai bà cháu, mở rộng hơn là cuộc sống gia đình với. xóm làng, với toàn dân tộc, với cả cuộc kháng chiến chống Pháp hồi ấy. Ngọn lửa soi sáng chân dung tinh thần của bà, soi sáng tình bà cháu bất diệt biểu tượng của sự sống muôn đời..

Trong đoạn thơ cuối, kỉ niệm tuổi thơ lắng dần. Chuyển từ nhớ thương sang suy ngẫm về cuộc đời, về ân sâu nghĩa nặng của đứa cháu nay đã trưởng thành – thành một thanh niên, một sinh viên đang du học ở nước ngoài – với cha mẹ ông bà.

Hình ảnh bà ôm trùm cả đoạn thơ. Điệp từ nhóm nhắc lại 4 lần mang 4 nghĩa khác nhau, bồi đắp cao dần, tỏa sáng mạnh dân nét kì lạ và vẻ đẹp thiêng liêng của bếp lửa từ vóc dáng đến việc làm, nhất là tình nghĩa của bà. Nhóm bếp lửa là nhóm cái bếp có thật: ngọn lửa, ánh sáng và hơi ấm có thật. Nhóm niềm yêu thương…. bà truyền cho cháu,  cháu truyền cho bà tình yêu thương ruột thịt nồng đượm. Nhóm nồi xôi gạo mới thổi chung vui, bà mở rộng tấm lòng gắn bó với làng xóm, quê hương. Và cuối cùng, kì diệu thay, bằng bếp lửa của bà, đã nhóm dậy, khơi dậy giáo dục, thức tỉnh tâm hồn và sức sống thanh xuân ngay từ thuở ấu thơ để cháu khôn lớn nên người, để cháu có thể được đi xa, thấy ngọn khói trăm tàu, niềm vui trăm ngả với ngọn lửa trăm nhà… Đó là đạo lí cội nguồn của dân tộc Việt Nam trong tình cảm gia đình con cháu đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên…

>> Xem thêm:  Phân tích đoạn thơ sau trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây; uống nước nhớ nguồn; ra sông nhớ suối, có ngày nhớ đêm…

Post Comment