Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân

Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân – Bài 1

Sống trên đời, ai ai cũng khao khát được yêu và có được hạnh phúc. Vì lẽ đó, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, con người ta vẫn luôn tin tưởng và mơ mộng về những tháng ngày tươi mới, sáng lạn hơn ở phía trước. Một trong những khả năng lớn lao cho các nhà văn nhà thơ chính là họ có thể xây dựng cuộc đời của các nhân vật trong mỗi câu chuyện theo mong muốn và xuất phát từ tấm lòng nhân đạo, lương thiện của họ. Qủa thực, ta có thể thấu hiểu rất rõ ràng những khát khao ấy qua truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân.

Loading...

Vợ nhặt là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất trong kho tàng sáng tác của nhà văn Kim Lân, được viết vào năm 1975 in trong tập “ Con chó xấu xí”. Trong bối cảnh người dân cả nước đang bị lâm trong cảnh đói nghèo của đại nạn 1945, tác giả đã hướng ngòi bút miêu tả chân thực về những mảnh đời cơ cực trong tầng lớp xã hội ấy. ở nơi ấy, tận sau trong những nỗi khó khăn, vất vả, tăm tối vì nghèo đói, những con người lao động vẫn toát lên những vẻ đẹp tâm hồn và lòng tin được hưởng hạnh phúc. Gía trị lớn nhất của truyện Vợ nhặt là giá trị nhân đạo.

Tác phẩm đã vẽ ra những khung cảnh thê thảm, xót xa của người dân nghèo trong nạn đói 1945. Câu truyện “ vợ nhặt” diễn ra ở một xóm ngụ cư, ở nơi cái đói đang hoành hành, hiện hữu ở bất cứ gian nhà nào. Đoàn người từ những vùng Nam định,Thái bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế dắt díu nhau lên “ xanh xám như những bóng ma” nằm ngổn ngang khắp các lều chợ. Đám quạ đen đậu trên những ngon cây bay vù lên “ như những đám mấy đen” trên nền trời. Khắp nơi là tiếng ỉ ôi khóc lóc bởi những nhà có người chết, đâu đó phảng phất mùi hơi người. Đâu đâu cũng thấy cảnh chết chóc, vạ vật bởi cái đói hành hạ.

Nhà mẹ con cu Tràng cũng chẳng khác xa với biết bao hoàn cảnh khác. Cửa nhà là một tấm phên rách, bà cụ Tứ “ mặt bủng beo u ám”, anh cu tràng “ bước mệt mỏi:, “ đầu trọc nhẵn chúi về đằng trước”. Trước lên tỉnh, các chị trông béo tròn béo ních, mà nay mấy chị con gái “ ngồi vêu ra”. Đặc biệt, là nhân vật “ thị” chẳng biết rõ tên tuổi quê quán nơi nào, nhưng cái đói cũng đang hiện hữu trên khuôn mặt và vóc dáng thị. Aó quần “tả tơi như tổ đỉa”, khuôn mặt lưỡi cày “ xám xịt”. Vậy nên, chỉ với bốn bát bánh đúc mà anh cu Tràng mua cho Thị, bỗng nhiên Thị thành vợ của Tràng ta chỉ nhờ một bữa no. Từ một người không ai thân thích, nương tựa, con đường phía trước là cận kề cái kết, ấy vậy mà thị được một kẻ cũng đói nghèo không kém cứu giúp. Thị cúi đầu ăn một chặp bánh đúc, trông có vẻ thô lỗ chẳng có nét ý tứ gì, thế nhưng lại khiến người đọc cảm thấy đáng thương chứ chẳng dám chê cười. Trong giây phút cái chết đến gõ từng nhà, thị vẫn khao khát được sống.

Thị chấp nhận bỏ qua danh dự để theo không anh chàng về làm vợ. Chẳng cần trầu cau cưới hỏi, đôi bên thưa gửi, cái nghèo nó đẩy con người ta vào chỗ chỉ cần có một chỗ dựa mà thôi. Anh Tràng, chẳng bao giờ nghĩ mình có thể lấy vợ, trong giờ phút gặp một con người xa lạ ấy, bỗng từ lòng thương cảm cho một đời người con gái liền đồng ý, mang thị về nhà. Kim lân miêu tả đôi mắt và nụ cười của anh tràng khi niềm vui có vợ, tựa như một điểm sáng giữa cuộc đời đen tối, u buồn. Khi người ta còn lo lắng chẳng đủ nuôi thân, anh Tràng vẫn có đủ lòng bao dung để mang một người con gái về nhà, để lắng lo, che chở cho thị.

Nhắc tới nhân vật bà cụ Tứ, ta còn thấy bà lão già nua, kiệt quệ ấy còn hy vọng về tương lai hơn tất cả. Khi trở về cái xóm ngụ cư nghèo “ càng xơ xác, heo hút”, nhà cửa “ úp súp, tối om”. Bữa tối đón nàng dâu mới bằng một nồi cám lợn mà cụ Tứ gọi là chè.  Thế nhưng, người con gái ấy chẳng lấy làm khấp khởi, mong mỏi về một viễn cảnh mới tươi sáng, thế nhưng nàng dâu mới vẫn biết  “ khép nép”, “ cúi mặt xuống vân vê tà áo đã rách bợt”. Tuy người ta sống nghèo nhưng vẫn biết lễ nghi phải phép. Bà Tú nhìn nàng dâu mời, lòng thở dài thườn thượt nhưng bà vẫn ân cần, nhẹ nhàng “ ừ thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng”. Thiết nghĩ, bà biết “ người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này mới lấy đến con mình, mà con mình với có vợ được”. Bà trăn trở với trách nhiệm làm mẹ, chẳng thể lo cho đứa con trai độc nhất của bà một đám cưới đầy đủ, rình rang, vì thế bà càng trở nên ân cần trong cách hàng động với con dâu “ con ngồi xuống đây, ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân”. Bà tìm mọi cách cố gắng tạo niềm tin và động lực cho mọi người giữa bối cảnh gia đình như thế. Bà mơ ước mua đôi gà, rồi nó đẻ ra những đàn gà con giống như mong muốn mãnh liệt được sống.  Rồi mẹ con “ thu dọn nhà cửa, sáng hôm sau thị dậy từ sớm quét dọn nhà cửa cho ngăn nắp, gọn gàng”. Người mẹ ấy vẫn luôn tận tụy cả cuộc đời để lo lắng, vun vén cho các con. Dù cụ biết, thời thế nghèo đói còn lâu lắm, nhưng cụ vẫn tin rồi mọi chuyện sẽ tốt lên, con trai con dâu của cụ sẽ có cuộc sống tốt hơn trong tương lai.

Sau bao khó khăn, ba người trong gia đình Cu tràng không nghĩ đến cái chết mà hướng về sự sống hạnh phúc và đổi đời. Tràng cảm thấy hắn đã trưởng thành, cần có bổn phận để lo lắng cho vợ con sau này. Đặc biệt, một chi tiết đắt giá trong truyện là hình ảnh “ lá cờ đỏ bay phấp phới” khi cách mạng sắp soi sáng vào cuộc đời những người dân nghèo khỏ nơi đây. Một niềm tin phơi phới vào ngày mai, bọn áp bức bóc lột bị xóa bỏ, đói nghèo bị đẩy lùi, nhân dân sẽ hưởng được cuộc sống ấm no được Kim Lân truyền tải, len lỏi sắp mọi ngóc ngách tâm hồn người đọc.

Kết thúc câu truyện, người đọc cảm nhận được sức mạnh niềm tin mãnh liệt của người lao động trong bất kì hoàn cảnh nào. Tuy vị cháo đắng chát, bựa ở cổ nhưng chẳng khiến con người ta mơ đến những ngày tháng ngọt ngào. Gía trị nhân đạo trong tác phẩm đã truyền sức mạnh đến cho người đọc, vào bản năng sống và khát vọng mạnh mẽ của con người.

Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân – Bài 2

“Vợ nhặt” là một trong những truyện ngắn hay nhất của Kim Lân và của nhà văn học Việt Nam sau năm 1974. Truyện vợ nhặt có giá trị nhân đạo và hiện thực sâu sắc. Thông qua tình huống “nhặt vợ” tác giả đã cho chúng ta thấy được nhiều điều về cuộc sống tối tăm của những người lao động trong nạn đói 1945 cũng như về khát vọng sống mãnh liệt và ý thức về nhân phẩm rất cao ở họ.

Trước hết, tác phẩm đã bộc lộ được niềm xót xa đối với cuộc sống thê thảm của người dân nghèo trong nạn đói 1945. Qua đó, tố cáo về tội ác tày trời của thực dân pháp và phát xít Nhật đã gây nên nạn đói. Trong bối cảnh chính của truyện “vợ nhặt” diễn ra trong một xóm ngục ơ, ở đó cái đói đang hành hạ mọi người, cái đói như thấm vào cái nhìn của cảnh vật. Con đường từ trong xóm chợ vào bên trong bến thì “khẳng khiu”, cái thứ ánh sáng đầu tiên hắt vào truyện là thứ ánh sáng nhập nhoạng mù mờ, không ra ánh sáng mà cũng không ra tối hẳn của buổi chiều tà “chạng vạng” rồi hiện lên vật vờ ủ rủ những bóng người đói “xanh xám như những bóng ma”. Người sống hì nằm ngổn ngang ở lều thợ, trên ngọn cât thì hình ảnh bầy quạ kêu thảm thiết. văng vẳng bên tai là tiếng trống thúc thuế dồn dập, những đứa trẻ thì ngồi ở xó đường, không buồn nhúc nhích…một cuộc sống mấp mé bên bờ cái chết với cái không khí “vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”.

Tiếp đó, tác phẩm đi sâu khám phá, trâng trọng cùng nâng niu về khát vọng hạnh phúc của con người, khát vọng sống, trước hết đó là Tràng. Khi nhặt được vợ về, Tràng không biết biết “chợn”, “thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không lại còn đèo bong”. Nhưng rồi anh ta “tặc lưỡi”: “Chậc, Kệ!”.

Tiếp đó là ý thức cố bám lấy sự sống rất mạnh mẽ ở người vợ nhặt. Thị đã chấp nhận bỏ qua ý thức danh dự để theo Tràng về nhà. NHư vậy, hoàn cảnh bi đát một mặt đẩy con người bỏ qua cả cái danh dự để tồn tại còn mặt khác thì nó làm bộc lộ lòng ham sống tới manh liệt của những ncon người ở dưới đáy xã hội như thị.

Tất cả mọi người đều có ý thức vun đắp cho cuộc sống mới và bà cụ Tứ cũng không ngoại lệ. khi cái tuổi gần đất xa trời bà lại là người thường nói tới hy vọng về ngày mai nhiều hơn tất cả: từ việc đan cái phên ngăn chỗ ở vợ chồng cho kín đáo rồi “ có tiền mua lấy đôi gà “… “Mẹ chồng nàng dâu thu dọn cửa nhà, sáng hôm sau thị dậy từ sớm quét dọn nhà cửa cho ngăn nắp, gọn gàng” hình như ai nấy đều nghĩ rằng “thu xếp cửa nhà cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể sẽ khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn”. Qua tác phẩm này còn cho chúng ta thấy niềm hy vọng về một cuộc đổi đời của các nhân vật, và đã được thể hiện qua hình ảnh lá cờ đỏ bay phấp phới vấn vương trong tâm trí Tràng.

Giá trị nhân đạo của truyện còn được thể hiện ở lòng tin sâu sắc vào sự đổi đời, vào lòng nhân hậu của con người. Tràng tuy có vẻ bề ngoài xấu xí nhưng cái đẹp bên trong lại luôn tiềm ẩn, đó là sự cảm thông, lòng thương người, sự hào phóng chu đáo. Qua việc Tràng đãi Thị bốn cát bát bánh đúc, mua một chai dầu và mua cho thị môt cái thúng con, đó chính là hành động rất bình thường nhưng nó lại thể hiện tình nghĩa và thái độ mua cho thị một cái thúng con, đó là hành động rất đỗi bình thường nhưng ở thời điểm đó nó thể hiện được tình nghĩa và cả thái độ trách nhiệm của Tràng.

Còn nói về người vợ Nhặt, lúc này đã có sự biến đổi về tính cách, trước khi về làm vợ Tràng, thi hiện lên với vẻ chao chát, chỏng lỏng. Trước câu hò của Tràng thì thị cong cớn nói “Điêu! Người thế mà điêu”… nhưng từ khi bắt đầu bước về làm vợ thì “ Thị đi theo Tràng với dáng điệu đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tang, nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt, khi về đến nhà thị chỉ dám ngồi mớm ở mép giường. Sáng hôm sau dậy từ sớm quét dọn nhà cửa…” còn về phần bà cụ Tứ thì bà luôn hết mực yêu thương cảm thông cho tình cảm của nàng dâu mới “có gặp bước khó khăn đói khổ này người ta mới lấy đến con mình, mà con mình mới có được vợ”, bà ân cần từ cách hành động với con dâu “con ngồi xuống đây, ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân”. Bà luôn trăn trở về nghĩa vụ làm mẹ của mình “chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi…còn mình thì”, trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt. Bà luôn cố tạo niềm vui cho gia đình giữa cảnh sống thê thảm. Người mẹ ấy luôn sống vì con vì cái và tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời mình trong hạnh phúc của con.

Nổi bật nhất trong giá trị nhân đạo của tác phâm đó là về niềm tin tưởng sâu sắc vào con người lao động, vào bản năng sống, khát vọng sống mạnh mẽ của họ. Tình cảm nhân đạo của tác phẩm có nét mới mẻ hơn so với tình cảm nhân đạo được thể hiện trong nhiều các tác phẩm văn học hiện thực trước cách mạng.

Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân
5 (100%) 480 đánh giá
Loading...